Tìm hiểu nghệ thuật Trà Đạo Trung Hoa

Là nước đầu tiên phát hiện và sử dụng lá trà. Trung Quốc được xem là cái nôi của nghệ thuật Trà Đạo.

Đối với người Trung Quốc, thưởng trà đã trở thành một nét văn hóa ngàn năm lịch sử, một đỉnh cao nghệ thuật. Không chỉ đơn giản là uống trà mà trong đó còn ẩn chứa nét đẹp văn hóa tinh thần độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.

Luận theo thuyết Ngũ hành, người Trung Hoa cho rằng trong một chén trà hội tụ đủ năm hành: kim, mộc, thủy, hỏa và thổ; trong đó lá trà là mộc, nước là thủy, ấm đun nước bằng kim loại là kim, lửa đun là hỏa và ấm pha trà bằng gốm sứ là thổ. Do vậy, ngoài lá trà và nước pha trà cần qua nhiều công phu chọn lọc, các vật dụng khác dùng uống trà cũng không kém phần phức tạp để đạt đến cái mà người Trung Hoa cho là “công phu trà”. Chén trà không chỉ là thức uống mà còn ẩn chứa trong đó cái đạo, cái văn hóa, cái tinh thần của dân tộc Hoa Hạ.

Cùng với Cầm, kỳ (cờ), thư (thư pháp), họa, thi, tửu (rượu), trà được các văn nhân tôn vinh là một trong 7 thứ không thể thiếu trong cuộc sống và được gọi là “quốc ẩm” . Các triều đại lịch sử phong kiến Trung Quốc có rất nhiều tác phẩm thi, hội họa và âm nhạc về trà; uống trà viết thơ, hoạt động đánh giá chất lượng trà đã trở thành những hoạt động giao tiếp, hội họp được các văn nhân yêu thích.

Nghe-thuat-tra-dao-1

Trà là một thói quen có tự ngàn đời. Thưởng trà là tập tục không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Người Trung Quốc uống trà đã có hơn 4 nghìn năm lịch sử, tục ngữ cổ có câu: “củi đóm, gạo dầu, muối, tương, dấm và trà” đó là những thứ thiết yếu trong cuộc sống, từ đó có thể thấy được uống trà là điều vô cùng quan trọng.

Tương truyền, trước năm 280, miền Nam Trung Quốc có một nước nhỏ gọi là nước Ngô, mỗi khi nhà vua thết tiệc, thường bắt các quan đại thần uống rượu đến say mềm. Có một đại thần tên là Vĩ Siêu không uống được nhiều rượu, nhà vua cho phép được uống trà thay rượu. Từ đó về sau, các quan văn bắt đầu dùng trà để tiếp khách. Đến đời nhà Đường, uống trà đã trở thành thói quen trong toàn thiên hạ.

Cũng có ghi chép rằng, thói quen này còn có liên quan đến Phật giáo. Vào khoảng năm 713 đến năm 741, lúc đó các sư sãi và các tín đồ trong nhà chùa do ngồi tụng kinh trong thời gian dài, thường hay ngủ ngật và ăn vặt, nhà sư liền nghĩ ra cách cho họ uống trà cho tỉnh táo, từ đó, biện pháp này được lưu truyền đi khắp nơi.

Thời Đường những gia đình giàu có còn mở phòng chuyên pha trà, thưởng thức trà và đọc sách, gọi là phòng trà.

Năm 780, Lục Vũ – chuyên gia về trà của nhà Đường đã tổng kết kinh nghiệp trồng trà, làm trà và uống trà, viết nên cuốn sách về trà đầu tiên của Trung Quốc với tựa đề: “Kinh nghiệm về trà”. Ông đã được người đời tôn là Thánh trà.

Đời Tống, nhà vua Tống Huy Tôn dùng tiệc trà để thết đãi các vị đại thần, tự tay pha trà; Hoàng cung đời nhà Thanh, không những uống trà, mà còn dùng trà để tiếp khách nước ngoài.

Ngày nay, hàng năm vào những ngày tết quan trọng như : tết dương lịch hoặc tết xuân vv…,có một số cơ quan, đoàn thể thường tổ chức liên hoan tiệc trà.

Pha trà, uống trà là một nghệ thuật.

Không chỉ đơn giản là một thói quen, cũng không phải tự nhiên việc uống trà lại được nâng lên gọi là thưởng trà, nó đã trở thành một loại hình nghệ thuật.

Có rất nhiều cách để pha một ấm trà. Đơn giản thì cho trà vào tách sau đó đổ nước sôi vào chờ vài giây rồi có thể mang ra thưởng thức. Tuy nhiên để có một ấm trà ngon theo đúng tinh thần Trà Đạo thì việc chuẩn bị nguyên liệu trà, nước pha trà, ấm pha trà, và chén dùng trà cũng phải tuân theo một yêu cầu khắt khe nhất định.

Trước tiên là việc chọn búp trà. Thu hái trà là khâu đầu tiên và cũng là khâu quyết định đầu tiên cho chén trà ngon sau này. Nơi trồng trà, người hái trà, thời điểm hái trà và kỹ thuật hái trà là những bí quyết đầu tiên cho ra loại lá trà tuyệt hảo; sau đó mới đến các công phu chế biến. Trà ngon là trà được hái lúc sáng sớm, mặt trời chưa ló dạng hẳn và kết thúc khi mặt trời gác sào (thời điểm này trà ít chát nhất). Búp trà được lựa chọn phải là những búp trà tươi, khỏe không bị dập nát, trải qua các quá trình sơ chế, sao khô hạ thổ.

Theo lí giải của người Trung Hoa xưa, ngọn trà khi được hái xuống đã tiếp nhận dương khí của trời, để cân bằng âm dương, thì trà sao khô phải được hạ thổ để nhận tinh khí từ đất. Đồng nghĩa đất trời giao hòa, âm dương cân bằng.

Nghe-thuat-tra-dao-2

Thứ đến là ấm đun nước: ấm của người Trung Hoa thường làm bằng đồng, của Nhật làm bằng gang. Người Trung Hoa thích dùng ấm đồng vì đó là yếu tố ‘kim’ trong Ngũ Hành của thú uống trà. Ấm đun phải có kim hỏa dưới đáy mới mau sôi.

Nước pha trà: Đi đầu trong việc pha trà là chọn nước. Từ xưa người Trung Hoa đã bỏ nhiều công sức bàn về chuyện này, có người viết cả cuốn sách chỉ luận thứ nước nào pha trà ngon như cuốn “Ghi chép các loại nước pha trà ngâm” của Trương Văn Tân viết năm 814; trong đó  nêu nhiều địa danh ở Trung Hoa nổi tiếng cho nước pha trà ngon.

Theo quan niệm của người xưa, mạch nước nhỏ từ trong lòng núi chảy ra, hay nước từ băng tuyết tan từ những cành hoa, ngọn cây dùng pha trà sẽ có hương vị đặc biệt khác lạ.

Ấm và chén dùng để pha trà. Tùy thuộc vào từng loại trà khác nhau và mục đích thưởng trà mà người sành trà lại lựa chọn cho mình một ấm pha trà hay chén trà phù hợp.

Văn hóa thưởng trà mang tầm ảnh hưởng đến mức đã làm sản sinh ra vô số kỹ nghệ làm đồ gốm sứ, đất nung hảo hạng phục vụ cho nghệ thuật trà đạo. Phải kể đến như là: ấm tử sa Nghi Hưng, đồ sứ Cảnh Đức,…..

Cách uống trà cũng khác nhau do văn hóa vùng miền. Người Bắc Kinh thích uống trà nhài nhưng người Thượng Hải, Chiết Giang lại thích trà xanh, người Phúc Kiến thì lại dùng trà đen….

Từ sự khác nhau về từng loại trà và văn hóa từng miền mà nghi lễ dùng trà, mời trà ở mỗi vùng cũng có sự khác biệt, không đồng nhất.

Uống trà không giống với việc uống những thức uống thông thường khác. Uống trà là uống cái văn hóa, cái tinh tế khiến nó trở thành một nghệ thuật thưởng thức.

Uống trà bao gồm hai mặt: một mặt là nghi lễ gồm các khâu chuẩn bị để thưởng thức trà cũng như phương pháp thưởng thức; thứ hai là tư tưởng tu dưỡng, tức là phải thông qua uống trà tu thân, nuôi dưỡng tinh thần, nâng cao tư tưởng cá nhân lên trình độ hiểu biết triết lý.

Nghe-thuat-tra-dao-3

Trà và Đạo

Nếu như trà là thức uống không thể thiếu thì Đạo đối với người Trung Hoa cổ xưa lại hiện diện trong tất cả các ngành nghề, con người lấy Đạo làm gốc, Đạo thấm đẫm trong từng việc nhỏ trong đời sống sinh hoạt. Do vậy Đạo cũng hòa trộn vào trà như một lẽ tất yếu.

“Đạo” thực ra là gì? Trong kinh điển “Trung Dung” nổi tiếng của nhà Nho Trung Quốc có giảng: “Thiên mệnh chi vị tính; suất tính chi vị Đạo” (Thiên mệnh là một đặc tính, thuận theo đặc tính ấy là Đạo).

Ý nghĩa chân chính của Đạo cho chúng ta hiểu rằng: trong vũ trụ mọi sự vật, gồm sự vận chuyển của Thiên thể, sự sinh sôi của loài người, sự thay đổi các triều đại, vòng sinh lão bệnh tử của đời người, chúng đều là theo Đạo mà vận hành, đều là có quy luật nhất định. Thành, Trụ, Hoại, Diệt ấy đều là quy luật của vũ trụ. Cho nên con người có thể “Phản bổn quy chân”, trở về với bản tính tiên thiên, bởi vì bản tính tiên thiên ấy là chân chính, là thiện lương, là liên thông với vũ trụ, như vậy mới có thể đạt tới cảnh giới Thiên nhân hợp nhất, Đạo pháp tự nhiên. Đó chính là “Đạo” mà người tu hành xưa kia thường hay nhắc tới.

Nghệ thuật Trà đạo là một loại nghệ thuật “Trung gian”, lấy trà làm phương tiện truyền đạt, kế thừa tinh thần của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Thời Đường có Lưu Trinh Lượng trong tác phẩm “Ẩm trà thập đức” cũng sáng suốt đưa ra: “Dùng trà có thể hành Đạo, dùng trà có thể đạt được chí khí thanh cao”Như vậy, Trà Đạo là gì?

Bề ngoài mà nói chính là do ở “Trà lễ, trà quy, trà pháp, trà kỹ, trà nghệ, trà tâm” sáu việc này cấu thành nên, gọi là “Trà đạo lục sự”.

Tu tập Trà Đạo chính là thông qua trà đạo lục sự ấy mà chứng ngộ được tinh thần của Trà Đạo. Nhìn bề ngoài thì tu tập Trà Đạo có vẻ là “Kỹ năng”, nhưng cần phải tu tập Trà tâm, tiếp theo còn phải bắt đầu tu tập trà kỹ, cần phải hiểu được đạo lý này mới có thể đàm luận về Trà Đạo được.

Tâm tĩnh lặng là nét đẹp trong trà đạo

Trà đạo không chỉ là để pha ra được một ấm trà ngon, mà nghệ thuật trà đạo đến từ cái tâm của người pha trà trong từng chi tiết nhỏ nhất, người xưa vẫn thường gọi là: dụng tâm chế trà. Hàm ý nhắc nhở từ việc nhỏ nhất cũng cần dùng tâm ý để làm. Khi người ta tâm huyết làm nên một điều gì đó, người thưởng ngoạn cũng cảm nhận được sự tinh tế và khéo léo của người làm ra nó. Đó chính là dùng tâm mà làm việc. Tâm càng tĩnh thì làm việc càng hiệu quả, càng tốt đẹp.

Trà đạo nghiên cứu “Hòa tĩnh di chân”, tức tâm tĩnh lặng  không suy tư, toan tính, nghĩ suy, đạt trạng thái tĩnh như mặt hồ, gột sạch những kiến giải sai lầm, sáng tỏ con đường phải đi để đạt Đạo.

Nói đến cái “Tĩnh Hư”, một số thiền sư cho rằng, đó là trạng thái nhập tĩnh tới mức coi thảy mọi việc đều là hư không. Trong nghệ thuật trà đạo Trung Quốc thực chất là nói về sự tĩnh lặng của thế giới tâm hồn, đến mức tĩnh lặng với mọi hoàn cảnh bên ngoài. Lấy tĩnh chế động. Chỉ cần tâm hồn của bản thân không mất đi “Hư tĩnh”, thì uống trà cũng được, nói cười cũng được, nghe nhạc cũng được, xem kịch cũng được, không có gì là không thể được.

Trước khi nếm trà, cần buông bỏ những phiền muộn, những điều cố chấp trong lòng, tĩnh tâm lại, bắt đầu tiến vào cảnh giới thẩm mỹ nếm trà, lặng lẽ lĩnh hội sắc của trà, hương của trà, vị của trà, hình tượng của trà… , từ đó mà tĩnh lặng quan sát, nghĩ lại về cuộc sống nhân sinh, bồi dưỡng tâm tính, đạt tới cảnh giới “Tĩnh Không động” trong tâm hồn, nhận thức được cái đẹp của “Tĩnh Hư”.

Nghe-thuat-tra-dao-4

Trà đạo không chỉ là nghệ thuật thưởng trà mà nó chính là tu luyện

Như vậy tâm tính là vấn đề rất được coi trọng trong trà đạo, để đạt được cảnh giới của đạt Đạo thì vấn đề tâm tính phải được rèn giũa, tôi luyện.

Tu hành Trà Đạo quan trọng nhất là tu tâm dưỡng tính, từ vị đắng của trà mà nhìn thấu được nhân sinh, hiểu được rằng con người sinh ra không phải là hưởng phúc, mà chính là chịu khổ mà hành thiện, để rồi chịu khổ mà buông bỏ tham chấp bản thân, để trở về với cái tiên thiên ban đầu vốn là tốt đẹp. Sau vị đắng của trà sẽ cảm nhận được vị ngọt nơi cổ họng, đó chính là, gian khổ trong tu luyện đã qua đi, tư tưởng từng ngày thăng hoa đề cao lên trên, từ đó mà đắc Đạo, thoát khỏi luân hồi khổ đau của thế giới trần tục, tiếp cận thế giới Thần vĩ đại. Theo như Đạo gia nói: tu Đạo đắc Đạo, phản bổn quy chân.

Nguồn: Tìm hiểu nghệ thuật Trà Đạo Trung Hoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll Up